|
Chính sách tốt nhưng quy định chưa hợp lý
Hệ thống an sinh xã hội là một trong những công cụ giữ nền kinh tế thị
trường phát triển bền vững. BHTN là một trụ cột của hệ thống an sinh đó. BHTN áp
dụng thống nhất sẽ tốt hơn nhiều trợ cấp thất nghiệp riêng lẻ của từng công ty,
nhất là những công ty nhỏ hay đang gặp khó khăn tài chính.
Có chính sách tốt, hợp quy luật đã khó, để nó đi vào cuộc sống và trở
thành một quan hệ pháp lý ổn định còn đòi hỏi nhiều hơn. Đầu tiên là đặt ra các
quy định hợp lý, tiện lợi, mang tính khả thi cao. Thứ hai là tổ chức thực hiện.
Việc đầu, trách nhiệm chính là của Nhà nước. Việc thứ hai, Nhà nước và xã hội
phân công nhau cùng làm.
BHTN là chuyện mới và khó. Việc soạn thảo và ban
hành quy định (lập pháp, lập quy) về BHTN cũng không đơn giản. Tuy thế, khi cuộc
sống có nhu cầu thì không thể chờ đợi hay quá cầu toàn. Không chỉ ở Việt
Nam, nước khác cũng có tình trạng quy
định chưa hợp lý, phải sửa. Quan trọng là sửa cho đúng và cho nhanh.
Sau
ba tuần áp dụng chính sách BHTN, đã thấy những điểm bất hợp lý cần sửa
ngay.
Thứ nhất là quy định “nếu doanh nghiệp nợ nghĩa vụ đóng BHTN ba
tháng trở lên thì người lao động chưa được trợ cấp”. Nguồn quỹ BHTN do người lao
động (NLĐ) đóng 1%, doanh nghiệp đóng 1% và Nhà nước góp 1% trên quỹ lương. Phần
của doanh nghiệp và NLĐ do doanh nghiệp đóng, nhưng nhiều doanh nghiệp lại đang
nợ. Nếu nợ trên ba tháng thì NLĐ của doanh nghiệp đó không được chốt sổ và chưa
được nhận BHTN. Chúng ta đều biết tình trạng doanh nghiệp nợ thuế hải quan kéo
dài đến nay vẫn chưa khắc phục được. BHTN nên tránh vết xe đổ ấy. Doanh nghiệp
vi phạm luật mà NLĐ lại bị chế tài là bất hợp lý.
Do vậy phải làm thủ tục chốt sổ và công nhận BHTN cho NLĐ, mặt khác cho
phép cơ quan bảo hiểm được áp dụng phạt hành chính và có cơ chế ra lệnh trích
tài khoản của doanh nghiệp để đóng BHTN. Mặt khác, do vẫn còn tình trạng chủ
doanh nghiệp bỏ trốn hoặc phá sản nên không đóng BHTN, Nhà nước nên lập quỹ dự
phòng và trong khi chờ thủ tục phá sản hay phát mãi tài sản, NLĐ sẽ được hưởng
BHTN từ quỹ này.
Thứ hai, nếu doanh nghiệp trì hoãn hoặc làm sai khâu
chốt sổ bảo hiểm xã hội khiến việc đăng ký BHTN bị chậm thì NLĐ phải chờ đến khi
chốt sổ xong mới được hưởng. Cần nhớ là khi thất nghiệp NLĐ ở vào thế yếu, hoàn
cảnh lại bức bách, vì vậy phải tránh cho họ bị phụ thuộc vào các “phòng ban” của
doanh nghiệp. Tổng liên đoàn Lao động nên yêu cầu bổ sung quy định giao công
đoàn cơ sở trách nhiệm hỗ trợ chốt sổ bảo hiểm xã hội đúng và kịp thời cho NLĐ.
Và nên có cơ chế cho truy lĩnh BHTN cho thời gian chờ đợi chốt sổ mà lỗi không
do NLĐ.
Tổ chức thực hiện là khâu quyết định
Tổ chức
thực hiện kém luôn là căn bệnh trầm kha làm chậm nhịp đi vào cuộc sống của nhiều
chủ trương, chính sách, quy định tốt. Môi trường kinh doanh Việt
Nam bị mất điểm cũng do thủ tục hành
chính rườm rà, nhiễu nhương, ngốn thời gian của doanh nghiệp. Bác Hồ từng chỉ rõ
“chủ trương một, biện pháp phải mười”, tiếc là không phải lúc nào chân lý dễ
hiểu này cũng được tôn trọng.
Giao việc đăng ký BHTN cho các trung tâm giới thiệu việc làm (TTGTVL) có
thể là cách làm đúng nhưng nhu cầu ở mỗi nơi khác nhau, ở TP.HCM có thể gấp mười
lần ở Hà Nội và gấp trăm lần so với tỉnh khác. Chưa kể TTGTVL lại có công việc
chính của họ.
Nhiều TTGTVL chưa có nhân lực và cơ sở vật chất đầy đủ, BHTN lại là việc
mới, vừa làm vừa xử lý vướng mắc, vừa xin hướng dẫn, chỉ đạo nên mỗi hồ sơ tốn
nhiều thời gian giải quyết hơn bình thường. Phải có biện pháp tăng cường lực
lượng thích đáng, ít nhất là trong năm đầu tiên, đặc biệt là ở TP.HCM, Hà Nội
cũng như những tỉnh thành có nhiều cơ sở công nghiệp. Bởi mỗi ngày chậm trễ là
tăng thêm sự quẫn bách cho cuộc sống của NLĐ thất nghiệp.
Theo quy định, BHTN bao gồm trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ
trợ tìm việc làm và chế độ bảo hiểm y tế trong thời gian hưởng trợ cấp thất
nghiệp. Đến nay ở một số địa phương, các TTGTVL chưa nhận được sự hỗ trợ vật
chất, nhân lực cần thiết từ trung ương và chính quyền tỉnh thành nên bắt đầu quá
tải. Do đó chưa giải quyết được nhu cầu đào tạo nghề và hỗ trợ tìm việc cho NLĐ.
Và như vậy BHTN chỉ giải quyết được cái ngọn của vấn nạn thất nghiệp, vì mục
đích của BHTN không chỉ là cứu đói tạm thời bằng “con cá” mà là trang bị “cần
câu”.
Khi nền kinh tế phát triển bình thường, vẫn có hàng trăm ngàn người thất
nghiệp mỗi năm. Trong điều kiện suy thoái hay khủng hoảng của nền kinh tế hay
của một ngành nhất định, lại có thêm nhiều người thất nghiệp.
Với dân số Việt Nam, mỗi năm nền kinh tế phải tạo ra
1-2 triệu việc làm mới. Nếu tiêu chí này không đạt, số người thất nghiệp lại gia
tăng. BHTN, do đó, là chủ trương lớn mang tính chiến lược, có vai trò quan trọng
trong kinh tế thị trường, tác động sâu sắc đến nguồn nhân lực, an sinh xã hội và
nhân tâm.
Người dân nói chung và NLĐ nói riêng muốn thấy sự quan tâm và tham gia
của cả hệ thống chính trị, trước hết là Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp phụ nữ
và Mặt trận Tổ quốc các cấp vào việc thực hiện chính sách quan trọng này. Không
thể để BHTN rơi vào tình trạng tương tự bảo hiểm y tế - một chính sách tốt và
đúng mà mấy năm rồi vẫn trầy trật cả trong quy định và tổ chức thực
hiện.
Nhiều nước không có đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, không chủ
trương kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng do nhu cầu của xã
hội, của cuộc sống con người và của chính nền kinh tế mà đã xây dựng rất tốt hệ
thống an sinh xã hội, đặc biệt là BHTN. Ở Việt Nam, không có lý
do gì mà không thể làm tốt hơn việc này.
|