Thăm dò ý kiến
Bạn thường tìm hiểu thông tin về BHXH ở đâu?


Mã xác nhận
4681

FE_View_Detail

Đảm bảo ASXH cho mọi NLĐ: Cần sự chia sẻ, bình đẳng
22/08/2018 | 16:01
Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của BCH Trung ương khóa XII về cải cách chính sách BHXH đã mở ra bước ngoặt lớn trong việc thực hiện an sinh xã hội cho mọi NLĐ. Song làm thế nào để đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách, tiến tới BHXH toàn dân lại là bài toán không đơn giản. Báo BHXH đã có cuộc trao đổi với bà Văn Thu Hà- Quản lý Dự án Quyền lao động của Tổ chức Oxfam tại Việt Nam về vấn đề này.

 

* PV: Hệ thống chính sách BHXH của Việt Nam tuy đã quy định bao phủ đến mọi NLĐ, nhưng thực tế triển khai lại không như mong muốn. Với nỗ lực cải cách BHXH lần này, theo bà, đâu là những vấn đề cốt yếu mà các cơ quan liên quan cần chú trọng thực hiện, để mục tiêu cải cách BHXH thành công?
Bà Văn Thu Hà:

Mục tiêu của Nghị quyết 28-NQ/TW có 2 điểm quan trọng, đó là: Phát triển hệ thống BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng- hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách BHXH tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch. Do vậy, để hiện thực hóa mục tiêu này, các cơ quan liên quan cần phải có chương trình, nội dung cụ thể.
Cơ chế BHXH dựa trên đóng- hưởng, về bản chất tạo ra bất bình đẳng giữa các nhóm công dân khác nhau, vì lệ thuộc vào vị thế việc làm. Chỉ những NLĐ có HĐLĐ ít nhất 1 tháng mới được tiếp cận các chế độ BHXH bắt buộc; còn những NLĐ khác (lao động phi chính thức, lao động gia đình và chăm sóc không hưởng lương, nông dân nhỏ, trong đó đa số là phụ nữ) thì không được tiếp cận. Mặt khác, cơ chế đóng- hưởng, khi cố gắng đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa những người tham gia (đóng nhiều hơn hưởng nhiều hơn) thì cũng không phù hợp với nguyên tắc chia sẻ và bền vững.
Điều 34 Hiến pháp 2013 khẳng định “công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”. Điều này đòi hỏi chương trình cải cách BHXH phải giải quyết mối quan hệ đóng- hưởng với nguyên tắc công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các cơ chế linh hoạt, đa dạng, đa tầng, không làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng. Điều đó cần quyết tâm chính trị của Nhà nước, đặc biệt trong bảo đảm nguồn thu không chỉ từ người dân, DN mà còn từ chính Nhà nước thông qua thuế.
Nhằm đạt mục tiêu thứ hai “nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách BHXH tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch” lại cần cơ chế đảm bảo minh bạch, công khai về quản lý thu- chi quỹ BHXH với sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là NLĐ.
 
* Theo mục tiêu của Nghị quyết, đến năm 2021 sẽ có 35% lực lượng lao động tham gia BHXH và đến năm 2030 đạt 60%. Vậy Việt Nam cần làm như thế nào để mở rộng diện bao phủ, hướng tới mục tiêu trên, thưa bà?
- Tôi cho rằng, nhóm lao động chưa tham gia BHXH chủ yếu là lao động thời vụ, lao động phi chính thức, lao động gia đình và chăm sóc không hưởng lương, nông dân sản xuất nhỏ. Tuy nhiên, cơ chế BHXH hiện nay chủ yếu là đóng- hưởng thuần túy, bộc lộ điểm yếu ở chỗ Nhà nước chưa phát huy được vai trò tái phân phối lại của cải xã hội. Đa số NLĐ có mức sống trung bình trở xuống làm việc thời vụ, nông nghiệp hay trong lĩnh vực phi chính thức chỉ được tiếp cận tới BHXH tự nguyện- với cơ chế thiếu hấp dẫn (gói phúc lợi ít) hoặc khó tiếp cận với những NLĐ nghèo hơn.

Tuyên truyền, vận động các tiểu thương tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình

Do vậy, BHXH toàn dân chỉ có thể thực hiện được khi khắc phục được những điểm yếu trên; hoặc bổ sung thêm gói trợ giúp xã hội cho một số nhóm. Như kinh nghiệm của Thái Lan, Nhà nước thực hiện chăm sóc y tế toàn dân thông qua nguồn quỹ bổ sung từ thuế. Theo đó, lao động phi chính thức, nông dân, lao động gia đình và chăm sóc không hưởng lương được chăm sóc y tế gần như miễn phí (họ chỉ phải trả một ít tiền nhỏ khi đi khám bệnh). Mặt khác, Nhà nước cần đảm bảo nguồn thu từ thuế để thúc đẩy phổ cập an sinh xã hội. Hiện nay, ngân sách chủ yếu từ nguồn thuế gián thu và tài nguyên, chưa thu được nhiều từ thuế thu nhập cá nhân, từ DN và tài sản.
Nghiên cứu của Oxfam “Đãi ngộ NLĐ, không phải nhóm siêu giàu” (2018) chỉ ra rằng, Nhà nước có vai trò quan trọng trong phân phối lại của cải xã hội theo 2 hướng: Phân phối lại tài sản và thu nhập ngay từ đầu qua việc thiết kế một nền kinh tế nhân văn hơn, trong đó có vai trò điều tiết để có lương đủ sống, điều kiện lao động và việc làm tốt hơn cho NLĐ; tái phân phối lại sự giàu có và thu nhập vì một xã hội công bằng hơn…


* Với những NLĐ ở khu vực phi chính thức, theo bà, sức hấp dẫn của BHXH cần thể hiện ở những điểm nào, nhằm thu hút được họ tham gia vào hệ thống BHXH?

- Cơ chế BHXH tự nguyện hiện nay cho những NLĐ ở khu vực phi chính thức còn có nhiều bất cập, nhất là gói quyền lợi ít hơn so với lao động khu vực chính thức (chỉ được hưởng chế độ tử tuất và hưu trí). Hơn nữa, với nhiều người, việc đóng góp thường quá khả năng của họ.
Do đó, tôi cho rằng, để tăng sức hấp dẫn của BHXH tự nguyện, Nhà nước- với tư cách người tái phân phối lại của cải xã hội, cần có chính sách bổ sung để đảm bảo NLĐ tham gia BHXH tự nguyện được hưởng các gói an sinh xã hội công bằng và bình đẳng với NLĐ tham gia BHXH bắt buộc. Chẳng hạn, Ấn Độ có Đạo luật “Quỹ phúc lợi dành cho công nhân ngành Xây dựng” (năm 1996). Nguồn quỹ này thu từ 1% trên tổng đầu tư của tất cả các công trình xây dựng công cộng và tư nhân, áp dụng cho tất cả các lao động trong ngành Xây dựng, với thủ tục đăng ký tham gia đơn giản. Quỹ cung cấp các phúc lợi cho NLĐ và gia đình họ, gồm các gói nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục (kỹ năng nghề, tập huấn ATVSLĐ, hỗ trợ pháp lý, học bổng cho con cái NLĐ), hưu trí, bảo hiểm tai nạn và tử tuất. NLĐ chỉ phải đồng tham gia vào quỹ hưu trí, có thể theo mức thấp nhất là 1.000 Rupi/năm (trong vòng 18-40 năm), để khi đủ 60 tuổi được nhận lương hưu với mức lương ít nhất là 1.000 Rupi/tháng. Hay, Trung Quốc bổ sung gói phúc lợi ngắn hạn về chăm sóc y tế vào BHXH tự nguyện để sau này NLĐ khi hết tuổi lao động được hưởng chăm sóc y tế miễn phí.


* Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, tỉ lệ hưởng BHXH của Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới (mức hưởng cao nhất lên đến 75% mức đóng). Tuy nhiên, đời sống nhiều NLĐ về hưu vẫn rất khó khăn, ảnh hưởng đến việc thu hút người dân tham gia BHXH. Nên khắc phục tình trạng này như thế nào, thưa bà?

- Quản lý an sinh xã hội dựa trên cơ chế đóng- hưởng thường rất đắt đỏ, đặc biệt là việc quản lý tuân thủ của DN. Về nguyên tắc, DN có nghĩa vụ đóng góp BHXH cho tất cả các HĐLĐ từ 1 tháng trở lên. Tuy nhiên, trên thực tế, DN tìm nhiều cách để trốn tránh nghĩa vụ, không khai báo số lao động thực tế, mà chỉ khai báo số lao động khung; hoặc NLĐ và chủ SDLĐ thỏa thuận đưa nghĩa vụ đóng góp BHXH vào lương để NLĐ tham gia BHXH tự nguyện. Điều này vừa làm thất thu quỹ BHXH, vừa làm mất đi quyền lợi an sinh xã hội của NLĐ.
Thực trạng trên đòi hỏi Nhà nước cần có đột phá trong đảm bảo nghĩa vụ đóng góp BHXH của DN. Mặt khác, lương của NLĐ hiện đang ở mức thấp do vậy cần cải tiến BHXH theo hướng chia sẻ và đảm bảo sàn an sinh xã hội hơn là hưởng trên cơ sở đóng như hiện nay. Ngoài ra, cơ chế BHXH cần được bổ sung bằng chính sách tăng lương tối thiểu đến mức lương đủ sống và các cơ chế trợ giúp xã hội khác.


* Trân trọng cảm ơn bà!


- Theo Nguyệt Hà, Báo BHXH

in Quay trở lại