Thăm dò ý kiến
Bạn thường tìm hiểu thông tin về BHXH ở đâu?


Mã xác nhận
7317

FE_View_Detail

Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc và trợ cấp thất nghiệp
31/08/2016 | 09:34

Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc, trợ cấp thất nghiệp được quy định cụ thể trong Bộ luật Lao động, Luật Việc làm và Luật BHXH (sửa đổi), góp phần bảo đản an sinh cho người lao động.

 

Trợ cấp mất việc
Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc cho người lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động; sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã. Điều kiện để hưởng trợ cấp mất việc là người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm trong các trường hợp trên, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.
Trợ cấp thôi việc
Người sử dụng lao động trả trợ cấp thôi việc cho người lao động trong trường hợp hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Người lao động  bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án. Người lao động chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trường hợp sau: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động. Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động. Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước. Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và 1/4 thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục. Đồng thời, người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 03 ngày làm việc hoặc 30 ngày, 45 ngày tùy từng trường hợp.
Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Người lao động  bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định  pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc. Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Đồng thời, người sử dụng lao động phải báo trước ít nhất 03 ngày làm việc, 30 ngày, 45 ngày tùy từng trường hợp. Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.
Về thời gian và tiền lương để tính trợ cấp: Thời gian và tiền lương để tính trợ cấp thôi việc và mất việc là như nhau. Cụ thể, tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia BHTN theo quy định của Luật BHXH và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Tiền lương để tính trợ cấp là tiền lương  bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, mất việc làm. Như vậy, nếu người lao động thôi việc và mất việc vì lý do công ty thay đổi cơ cấu, công nghệ hay lý do kinh tế hoặc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì sẽ được hưởng cả trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc.
Trợ cấp thất nghiệp
Theo quy định của Luật BHXH (sửa đổi), đối tượng tham gia BHTN là người lao động có hợp đồng lao động xác định thời hạn ít nhất từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. Người sử dụng lao động tham gia BHTN có sử dụng từ 10 lao động trở lên tại các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, cơ quan tổ chức, cá nhân nước ngoài có sử dụng lao động là người Việt Nam. Người lao động sẽ được trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp bị mất việc làm, bị chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động mà chưa tìm được việc làm; trước khi bị thất nghiệp, NLĐ đã đóng BHTN được 12 tháng trở lên và đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH.
Mức đóng BHTN được quy định như sau: Người lao động đóng BHTN bằng 1% tiền lương, tiền công tháng; người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng và Nhà nước sẽ hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng nếu có đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng BHTN; 06 tháng nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 9 tháng nếu có đủ từ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng nếu có từ đủ 144 tháng đóng BHTN trở lên./.

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

in Quay trở lại